Monday, October 12, 2026

(Bản đọc thuộc) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta

Lúc ấy tôi có nghe như vầy (evaṃ me sutaṃ):

Vào một thời nọ, Đức Thế Tôn ở tại vườn Lộc Giả - nơi phóng sanh đàn nai, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res.

Đức Phật gọi năm vị Tỳ Khưu và dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh, không nên thực hành theo:

*Một là chìm đắm trong hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures). Đó là điều thấp hèn (hạ liệt), thô bỉ (đê tiện), phàm tục (phàm phu), không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

*Hai là sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh khắc khổ (harsh austerity). Đó là điều gây khổ sở, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

Các Tỳ Khưu hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.

Rời xa hai cực đoan, Như Lai đã chứng ngộ con đường trung đạo là con đường ở giữa:

Con đường trung đạo là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng. Do Như Lai chánh giác để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), và sự hiểu biết phân minh (tác thành trí), tiến đến sự an tịnh, đưa đến trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và niết-bàn.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã chứng ngộ (do Như Lai chánh giác) là sự tu hành để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), tri kiến (tác thành trí), đưa đến sự an tịnh, trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và Niết-bàn là gì? – Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo là con đường có tám (8) thành tố (eightfold):

1 - Chánh Tri Kiến (正見, Samma ditthi, Right view): Thấy biết đúng đắn.

2 - Chánh Tư Duy (正思唯, Samma sathkappa, Right intention): Suy nghĩ hợp lý.

3 - Chánh Ngữ ( 正語, Samma vaca, Right speech): Nói năng hợp lẽ.

4 - Chánh Nghiệp (正業, Samma kammanta, Right action): Hành vi hợp đạo.

5 - Chánh Mạng (正命, Samma ajiva, Right Livehood): Nuôi mạng hợp pháp.

6 - Chánh Tinh Tấn (正精進, Samma Vayama, Right Effort): Siêng năng chăm chỉ.

7 - Chánh Niệm (正念, Samma sati, Right Mindfulness): Chú ý đúng mực.

8 - Chánh Định (正定, Samma Samadhi, Right Concentration): Tâm trí ổn định.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Đó là con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ. Do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Hỡi này các Tỳ Khưu! Bây giờ Như Lai giảng về chân lý cao thượng về sự khổ (Duḥkhā ryasatya, the Noble truth of Suffering) Khổ Thánh Đế.

Có tám (8) cái khổ như sau:

(1) Sanh là sự hợp lại của ngũ uẩn: Sanh là khổ;

(2) Lão/già là khổ;

(3) Bệnh/ bịnh là khổ;

(4) Tử/chết là sự tan rã Ngũ Uẩn: Tử là khổ;

(5) Buồn rầu (sầu bi), lo lắng (ưu não), thất bại, rối loạn tâm thần là khổ;

(6) Oán tắng hội khổ: Tức là ghét nhau mà phải giáp mặt nhau là khổ;

(7) Ái biệt ly khổ: Tức là thương nhau mà phải biệt ly là khổ;

(8) Cầu bất đắc khổ: Tức là mong cầu mà không được là khổ.

Nói cách khác (tóm lại), (5 thụ uẩn) chấp thân ngũ uẩn (five psycho-physical condition groups) là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng gây ra khổ.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ (Dukkha samudaya ariya sacca, Noble Truth of the cause) Khổ Tập Thánh Đế.

Tham ái là nguyên nhân của mọi đau khổ. Chính là ái này đưa đến tái sanh. Cầu hữu với hỷ và tham. Tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là "dục ái", "hữu ái", "phi hữu ái".

Tham ái có ba (3) dạng:

(1) Một là dục ái (Kāma-taṇhā): Sự ham muốn, dính mắc vào các dục lạc của ngũ trần - còn gọi là ngũ trần nhục dục. Ngũ trần là:

(1) Sắc trần là cảnh bị thấy bởi mắt (Nhãn căn);

(2) Thinh (thanh) trần là âm thanh bị nghe bởi tai (Nhĩ căn);

(3) Hương trần là mùi bị hửi bởi mũi (Tỷ căn);

(4) Vị trần là vị bị nếm bởi lưỡi (Thiệt căn);

(5) Xúc trần là xúc bị chạm bởi thân (Thân căn).

Ái dục của đời sống: sắc đẹp, âm thanh, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm dễ chịu và các đối tượng hấp dẫn.

(2) Hai là hữu sanh ái (hữu ái) (Bhava-taṇhā): Ái đeo níu theo sự sinh tồn. Sự khao khát được tồn tại, được trở thành, được tiếp tục hiện hữu trong một trạng thái hay cảnh giới nào đó.

(3) Ba là vô sanh ái (phi hữu ái) (Vibhava-taṇhā): Sự vướng mắc vào quan điểm cho rằng sau cái chết là không còn gì cả.

Các tham ái đó là nguyên nhân của khổ đau.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha-nirodha-ariya Sacca, Noble Truth of Ending Suffering) Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn các ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha nirodhaga-mini-patipada-ariya-sacca, Noble Truth of the way leading to the cessation of suffering) Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đạo diệt khổ tập thánh đế đó chính là Bát Chánh Đạo: (1) Chánh Tri Kiến - Thấy biết đúng đắn; (2) Chánh Tư duy - Suy nghĩ hợp lý; (3) Chánh Ngữ - Nói năng hợp lẽ; (4) Chánh Nghiệp - Hành vi hợp đạo; (5) Chánh Mạng - Nuôi mạng hợp pháp; (6) Chánh Tinh Tấn - Siêng năng chăm chỉ; (7) Chánh Niệm - Chú ý đúng mực; (8) Chánh Định - Tâm trí ổn định.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, để hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Như Lai thực hiện tam chuyển (tipariva, three phases/ stages) Pháp luân cho mỗi Đế. Có tứ (4) Đế, mỗi Đế có tam (3) chuyển, do đó thành ra có thập nhị (12) hành tướng (dvadasakara, twelve aspects).

1. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Khổ Đế

a. Thị Chuyển: Đây là chân lý về sự Khổ: Khổ Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan, tri kiến, trí huệ, minh sát huệ và ánh sáng phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải nhận thức Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này cần phải được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này đã được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

2. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Khổ Tập Đế

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về nguyên nhân của khổ: Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải tận diệt các nguyên nhân của sự khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ cần phải đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã tận diệt các nguyên nhân của khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ đã được đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

3. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Diệt Khổ Tập Đế:

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về diệt nguyên nhân của khổ: Diệt Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải chứng ngộ sự diệt bỏ những nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này cần phải được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng ngộ sự diệt các nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

4. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Đạo Diệt Khổ Tập Đế

a. Thị chuyển: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ: Đạo Diệt Khổ Tập Đế (=Bát Chánh Đạo). Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải phát triển con đường diệt tận các nguyên nhân của khổ. Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế cần phải được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã thực nghiệm (to be practised) và đã phát triển (to be developed) con đường diệt tận mọi nguyên nhân của khổ đau. Bát Chánh Đạo đã được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân (tiparivă, three stages/ phases) - thập nhị hành (dvadasakara, twelve aspects), để kết luận thời Pháp, Đức Phật Thích-ca giảng tiếp:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages/ phases) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samma Sambodhi, The highest Awakening).

Hỡi này các Tỳ Khưu! đến khi Như Lai thấu triệt Bốn Diệu Đế/ Bốn Thánh Đế (insight and understanding of the Four Noble Truths/Four Holy Truths), với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì đến lúc đó Như Lai mới xác nhận trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), Con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng lúc ấy tri kiến và tuệ giác phát sanh đến Như Lai, thì tâm của Như Lai được hoàn toàn giải thoát vững chắc và không còn lay chuyển và hoàn toàn bất động. Và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn kiếp sanh tồn nào khác nữa.

Đức Phật giảng như thế ấy, các vị Tỳ Khưu thấy vui mừng trong lòng hoan hỉ tán dương lời của Đức Thế Tôn, tín thọ lời Phật dạy. Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, Pháp nhãn của ngài Koṇḍañña (Kiều-Trần-Như) thanh tịnh, không còn vướng bụi, hết bẩn nhơ, không cấu uế (Dhamma Cakkhu, Pure eye of Dhamma); và ngài chứng ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải hoại diệt” "phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt" (everything is of a nature to arise is likewise of a nature to cease).

Lúc Đức Phật chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên hành tinh này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res.”

Nghe lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ-Đại-Thiên-Vương (Catum-Maha-Rajika, Four Kings) cũng đồng thanh hoan hô: “tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng.”

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tứ Đại Thiên Vương thiên, chư thiên ở cõi trời Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) cũng đồng thanh hoan hô: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) thiên, chư thiên Yāma cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Yāma thiên, chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên)  cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên), chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên), chư Phạm thiên ở Brahma-pārisajja (Phạm Chúng Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Chư Phạm thiên Brahma-purohita (Phạm Phụ Thiên), Mahābrahmā (Đại Phạm Thiên), Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên (một số truyền thống liệt kê riêng), Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô.

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.

Một hào quang vô lượng, quảng đại, vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.

Đức Phật liền nói: “Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Aññāsi vata bho Koṇḍañño! Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Từ đó tôn giả Koṇḍañña được gọi tên là Aññāta-Koṇḍañña ("Koṇḍañña đã thấu hiểu"), có nghĩa là “Koṇḍañña là người đã giác ngộ”.

Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

Saturday, October 10, 2026

Con người là sản phẩm tinh xảo nhất của Đấng Sáng Tạo nhưng cũng là sản phẩm thất bại nhất của Ngài

Con người là sản phẩm tinh xảo nhất của Đấng Sáng Tạo nhưng cũng là sản phẩm thất bại nhất của Ngài.

Chắc là Đấng Sáng Tạo hoan hỉ lắm khi lúc vừa mới tạo ra con người.

Nhưng chắc hẳn Ngài cũng không thể hình dung được là đến lúc Ngài cũng không thể khống chế được sự tàn phá của nó.

Thursday, October 8, 2026

Kinh Chuyển Pháp Luân


KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN tức là Bài Kinh Vận Chuyển Bánh Xe Pháp - là Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca

Phần I - Nhập đề:

Thái tử Siddhattha (tiếng Pali), hay Siddhārtha Gautama (tiếng Sanskrit) (tiếng Hoa ngữ phiên âm là Tất-đạt-đa) được sanh ra trong gia đình hoàng tộc. Khi trưởng thành thái tử đã lấy vợ và sanh con. Nhẽ ra ngài sẽ kế thừa ngai vàng. Nhưng tới năm 29 tuổi, ngài rời hoàng cung để xuất gia tu hành. Ban đầu ngài tu khổ hạnh cùng với 5 người Koṇḍañña (tiếng Hoa phiên âm là Kiều Trần Như), Bhaddiya, Vappa, Mahanama, và Asaji. Sau 6 năm tu khổ hạnh, đến năm 35 tuổi, cơ thể suy kiệt, ngài nhận thấy con đường tu khổ hạnh không mang lại kết quả gì. Ngài liền rời bỏ lối tu khổ hạnh. Lúc đó 5 người bạn đồng tu thấy vậy liền rời bỏ ngài. Ngài tu một mình và chứng đắc Chánh đẳng giác ở tuổi 35 trở thành Phật Thích Ca. Sau khi thành Phật, ngài tìm lại 5 người bạn tu và giảng bài kinh này.

Tôn giả Ananda là thư ký riêng (hay thị giả) của Bụt trong suốt 25 năm cuối đời Đức Phật. Sau khi Bụt nhập diệt, trong lần kết tập đầu tiên, ngài Ananda đọc lại từ trong trí nhớ toàn bộ lời bài kinh này.

Lúc ấy tôi có nghe như vầy:

Vào một thời nọ, Đức Phật Thích Ca ở tại Vườn Lộc Giả (là vườn phóng sanh đàn nai) ở xứ I-si-pa-ta-na (hay nơi này còn được gọi là nơi chư tiên đọa xứ), hiện nay là Sarnath, gần thành Be-na-res.


Phần II - Từ bỏ hai cực đoan

Đức Phật gọi 5 thầy Tỳ Khưu đang ngụ ở nơi ấy, họ đã từng là bạn đồng tu khổ hạnh với ngài trước đây, và dạy rằng:

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh, không nên thực hành theo:

*Một là chìm đắm trong hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures). Đó là điều thấp hèn (hạ liệt), thô bỉ (đê tiện), phàm tục (phàm phu), không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

*Hai là sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh khắc khổ (harsh austerity). Đó là điều gây khổ sở, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

Các thầy hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.

 

Phần III - Con đường ở giữa - Con đường trung đạo

Như Lai đã chứng ngộ trung đạo là con đường ở giữa. Con đường trung đạo là ở giữa hai cực đoan ấy, tức là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng (do Như Lai chánh giác) để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), sự hiểu biết phân minh (tác thành trí), tiến đến sự an tịnh, đưa đến trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và niết-bàn hay con đường dứt khổ.

 

Phần IV - Bát Chánh Đạo

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã chứng ngộ là sự tu hành (do Như Lai chánh giác) để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), tri kiến (tác thành trí), đưa đến sự an tịnh, trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và Niết-bàn là gì? – Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo là con đường có tám (8) thành tố (eightfold). Tám chi đó là:

1 - Chánh Tri Kiến (正見, Samma ditthi, Right view): Thấy biết đúng đắn: Người có chánh kiến là người hiểu rõ Tứ Diệu Đế. Người có chánh kiến là người thấu hiểu sự vật theo: - thật tướng vô thường, thật thể vô ngã, thật tánh duyên khởi tức là mọi vật đều liên kết, đều tuỳ thuộc lẫn nhau mà hiện hữu. Người có chánh kiến là người thấu hiểu mọi hành động đều có hiệu quả: chết không phải là hết, những hành động và đức tin đều có cái hậu quả sau khi chết.

2 - Chánh Tư Duy (正思唯, Samma sathkappa, Right intention): Suy nghĩ hợp lý: Có nghĩa là mọi suy nghĩ/ tư duy căn cứ vào Tứ Diệu Đế, căn cứ vào các Pháp: vô thường, khổ, vô ngã.

3 - Chánh Ngữ ( 正語, Samma vaca, Right speech): Nói năng hợp lẽ: Có nghĩa là lời nói phải hòa nhã, hợp đạo lý, chân chính/ không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói những lời phù phiếm.

4 - Chánh Nghiệp (正業, Samma kammanta, Right action): Hành vi hợp đạo: Có nghĩa là hành động từ bỏ các điều ác, từ bỏ việc làm tổn thương đến người khác, hành động giúp người khác được lợi, được vui, và cũng giúp chính mình được lợi và an vui.

5 - Chánh Mạng (正命, Samma ajiva, Right Livehood): Nuôi mạng hợp pháp: Có nghĩa là sinh sống bằng những nghề không xúc phạm đến thân mạng và tài sản của người khác.

6 - Chánh Tinh Tấn (正精進, Samma Vayama, Right Effort): Siêng năng chăm chỉ: Có nghĩa là siêng năng làm điều lành, cố gắng tránh đều ác.

7 - Chánh Niệm (正念, Samma sati, Right Mindfulness): Chú ý đúng mực: Chú tâm để tâm vào từng hành vi cử chỉ lớn nhỏ của mình. Có nghĩa là luôn luôn nhớ, nghĩ đến điều lành, và nghĩ tới điều ác nên tránh.

8 - Chánh Định (正定, Samma Samadhi, Right Concentration): Tâm trí ổn định: Tâm trí không lăng xăng dao động. Có nghĩa là luôn luôn giữ tâm không bị vọng động, giữa tâm thanh tịnh, bình thản, và chú tâm vào điều tốt.

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Đó là con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ. Do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Phần V - Tứ Diệu Đế

Đức Phật giảng tiếp về Tứ diệu đế (四妙諦, Catvāry āryasatyāni, Cattāri ariya-saccāni, Four Noble Truths), là bốn chân lí cao cả/ cao thượng; cũng gọi là tứ thánh đế (四聖諦, Four Holy Truths). Đây là trọng tâm của bài thuyết Pháp này.

1. Khổ Đế

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Bây giờ Như Lai giảng về chân lý cao thượng về sự khổ (Duḥkhā ryasatya, the Noble truth of Suffering).

Có tám (8) cái khổ như sau:

(1) Sanh là sự hợp lại của ngũ uẩn: Sanh là khổ,

(2) Lão/già là khổ, 

(3) Bệnh/ bịnh là khổ,

(4) Tử/chết là sự tan rã Ngũ Uẩn: Tử là khổ,

(5) Buồn rầu (sầu bi), lo lắng (ưu não), thất bại, rối loạn tâm thần là khổ,

(6) Oán tắng hội khổ: Tức là ghét nhau mà phải giáp mặt nhau là khổ,

(7) Ái biệt ly khổ: Tức là thương nhau mà phải biệt ly là khổ,

(8) Cầu bất đắc khổ: Tức là mong cầu mà không được là khổ.

Nói cách khác (tóm lại), (5 thụ uẩn) chấp thân ngũ uẩn (five psycho-physical condition groups) là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng gây ra khổ.

Ngũ uẩn (五蘊, pañca-skandha, pañca-khandha, five aggregates་), còn gọi là Ngũ ấm (五陰), pañca là 5; skandha là nhóm, tiếng Hoa ngữ dịch là uẩn có nghĩa là tích tụ, là (các điều, các vật) được chất chứa cùng một nhóm.  Ngũ uẩn là năm nhóm yếu tố kết hợp lại tạo thành con người: (A) Phần vật chất  có hình dáng gọi là (1) Sắc uẩn; (B) Phần tâm lý không có hình dáng, gồm 4 nhóm, gọi là: (2) Thọ uẩn, (3) Tưởng uẩn, (4) Hành uẩn và (5) Thức uẩn.

2. Tập Khổ Đế

Bây giờ, hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ (Dukkha samudaya ariya sacca, Noble Truth of the cause).

Tham ái là nguyên nhân của mọi đau khổ. Chính là ái này đưa đến tái sanh. Cầu hữu với hỷ và tham. Tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là "dục ái", "hữu ái", "phi hữu ái".

Tham ái có ba (3) dạng:

(1) Một là dục ái (Kāma-taṇhā): Sự ham muốn, dính mắc vào các dục lạc của ngũ trần - còn gọi là ngũ trần nhục dục. Ngũ trần là:

(1) Sắc trần là cảnh bị thấy bởi mắt.

(2) Thinh trần là tiếng bị nghe bởi tai.

(3) Hương trần là mùi bị hửi bởi mũi.

(4) Vị trần là vị bị nếm bởi lưỡi.

(5) Xúc trần là xúc bị chạm bởi da.

Ái dục của đời sống: sắc đẹp, âm thanh, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm dễ chịu và các đối tượng hấp dẫn.

(2) Hai là hữu sanh ái (hữu ái) (Bhava-taṇhā): Ái đeo níu theo sự sinh tồn. Sự khao khát được tồn tại, được trở thành, được tiếp tục hiện hữu trong một trạng thái hay cảnh giới nào đó.

(3) Ba là vô  sanh ái (phi hữu ái) (Vibhava-taṇhā): Sự vướng mắc vào quan điểm rằng sau cái chết là không còn gì cả.

Các tham ái đó là nguyên nhân của khổ đau.

3. Diệt Tập Khổ Đế

Bây giờ, hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha-nirodha-ariya Sacca, Noble Truth of Ending Suffering). Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn các ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

4. Đạo Diệt Tập Khổ Đế

Bây giờ, hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha nirodhaga-mini-patipada-ariya-sacca, Noble Truth of the way leading to the cessation of suffering). Đạo diệt tập khổ thánh đế đó chính là Bát Chánh Đạo: (1) Chánh Tri Kiến, (2) Chánh Tư duy, (3) Chánh Ngữ, (4) Chánh Nghiệp, (5) Chánh Mạng, (6) Chánh Tinh Tấn, (7) Chánh Niệm, (8) Chánh Định.

 

Phần VI - Tam Chuyển Pháp Luân, Thập Nhị Hành

Để giúp 5 vị Tỳ Khưu hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Đức Phật thực hiện “tam chuyển Pháp luân” cho mỗi Đế. Có tứ (4) Đế, mỗi để có tam (3) chuyển, do đó thành ra có thập nhị (12) hành tướng.

1. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Khổ Đế

a. Thị Chuyển: Đây là chân lý về sự Khổ (Khổ Đế) [sự thật về nỗi khổ đau: phiền não, sanh tử luân hồi…] Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan, tri kiến, trí huệ, minh sát huệ và ánh sáng phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

(Nhãn quan (seeing), sự biết (understanding), sự hiểu, trí tuệ biết rõ (wisdom), chân hiểu biết (true knowledge) và ánh sáng (light) đã phát sanh đến Như Lai. [ánh sáng ở đây có thể hiểu là “diệt trừ được vô minh”]

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải nhận thức Khổ Đế này. Thánh đế về khổ cần phải liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Đế này. Thánh đế về khổ đã được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

2. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Tập Khổ Đế

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập Khổ Đế) [sự thật về các nguyên nhân của đau khổ, phiền não, và sanh tử luân hồi]. Đây là Thánh Đế về Tập Khổ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải tận diệt các nguyên nhân của sự khổ. Khổ Tập Đế. Tập Khổ tức là các nguyên nhân của khổ cần phải đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã tận diệt các nguyên nhân của khổ. Tập Khổ tức là các nguyên nhân của khổ đã được đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

3. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Diệt Tập Khổ Đế:

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về diệt nguyên nhân của khổ (Diệt Tập Khổ Đế) [sự thật về việc phải diệt trừ sự khổ đau để đạt được an lạc, thanh tịnh, hạnh phúc và giác ngộ]. Đây là Thánh đế về Khổ Diệt. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải chứng ngộ sự diệt bỏ những nguyên nhân của khổ. Diệt Tập Khổ Đế này cần phải được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng ngộ sự diệt các nguyên nhân của khổ. Diệt Tập Khổ Đế này đã được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

4. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Đạo Diệt Tập Khổ Đế

a. Thị chuyển: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ: Đạo Diệt Tập Khổ Đế (=Bát Chánh Đạo) [con đường có tám (8) thành tố dẩn đến việc diệt trừ khổ đau]. Đây là thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải phát triển con đường diệt tận các nguyên nhân của khổ. Đạo Diệt Tập Khổ Đế cần phải được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã thực nghiệm (to be practised) và đã phát triển (to be developed) con đường diệt tận mọi nguyên nhân của khổ đau. Bát Chánh Đạo đã được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

Tam chuyển (tipariva, three phases/ stages) Pháp luân: Đức Phật đã giảng “mỗi Diệu Đế” bằng cách đi qua 3 giai đoạn nhằm giúp cho 5 vị Tỳ Khưu hiểu rõ và thực hiện hoàn toàn mỗi Diệu Đế:

(a) Thị chuyển: đây là giai đoạn công nhận (recognition), hiểu biết về “mỗi Diệu Đế” mà (hiện nay) Đức Phật đã thấy rõ, (trước kia, trước khi giác ngộ, Đức Phật chưa thấy rõ). Ngài giảng rõ cho 5 vị Tỳ Khưu ý thức về sự có mặt của Khổ đau, hành trình tìm hiểu nguyên nhân, quyết định diệt trừ khổ đau, và con đường giúp diệt trừ khổ đau.

(b) Khuyến chuyển: đây là giai đoạn khuyến khích (encouragement) tìm hiểu về “mỗi Diệu Đế”, Đức Phật đã khuyến khích 5 vị Tỳ Khưu nên tìm hiểu rõ về sự khổ đau, về nguyên nhân, quyết định diệt trừ khổ đau, và phương cách để diệt trừ khổ đau.

(c) Chứng chuyển: đây là giai đoạn thực hiện (realization), Đức Phật nêu lên bằng chứng Ngài đã trải nghiệm và thực hiện “mỗi Diệu Đế”, do đó 5 vị Tỳ Khưu cần phải thực hiện “mỗi Diệu Đế” này.

Tóm lại, sau khi đã nhận thức từng (hay 4) Diệu Đế thì phải hiểu rõ từng (hay 4) Diệu Đế, rồi hoàn thành việc thực hiện từng (hay 4) Diệu Đế. Và như thế các thầy Tỳ Khưu mới giải thoát khỏi khổ đau.

Thập nhị hành (dvadasakara, twelve aspects): Đức Phật thực hiện “tam (3) chuyển Pháp luân” cho mỗi Diệu Đế (mỗi chân lý vi diệu). Có 4 Diệu Đế (4 chân lý vi diệu), nên có 12 hành tướng.

 

Phần VII - Xác Nhận

Sau khi kết thúc “tam chuyển Pháp luân” (tiparivă, three stages/ phases) - thập nhị hành (dvadasakara, twelve aspects), để xác nhận thời Pháp, Đức Phật Thích-ca giảng tiếp:

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages/ phases) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samma Sambodhi, The highest Awakening).

Hỡi này các thầy Tỳ Khưu! đến khi Như Lai thấu triệt Bốn Diệu Đế/ Bốn Thánh Đế (insight and understanding of the Four Noble Truths/Four Holy Truths), với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì đến lúc đó Như Lai mới xác nhận trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), Con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng lúc ấy tri kiến và tuệ giác phát sanh đến Như Lai, thì tâm của Như Lai được hoàn toàn giải thoát vững chắc và không còn lay chuyển (bất động). Và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn kiếp sanh tồn nào khác nữa.


Phần VIII - Kết luận:

Đức Phật giảng như thế ấy, các vị Tỳ Khưu thấy vui mừng trong lòng hoan hỉ tán dương lời của Đức Thế Tôn (tín thọ lời Phật dạy). Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, Pháp nhãn của ngài Koṇḍañña (Kiều Trần Như) không còn vướng bụi, hết bẩn nhơ (thanh tịnh không cấu uế) (Dhamma Cakkhu, Pure eye of Dhamma); và ngài chứng ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải hoại diệt” (phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt) (everything is of a nature to arise is likewise of a nature to cease).

Lúc Đức Phật chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên hành tinh này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res.”

Nghe lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ-Đại-Thiên-Vương (Catum-Maha-Rajika, Four Kings) v…v… cũng đồng thanh hoan hô: “tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng.” và họ quay lưng rời bỏ chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn và bất cứ người nào trên thế gian này. Họ sẽ hướng về Đức Phật.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tứ Đại Thiên Vương thiên, chư thiên ở cõi trời Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) cũng đồng thanh hoan hô: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) thiên, chư thiên Yāma cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Yāma thiên, chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên)  cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên), chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên), chư Phạm thiên ở Brahma-pārisajja (Phạm Chúng Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Chư Phạm thiên Brahma-purohita (Phạm Phụ Thiên), Mahābrahmā (Đại Phạm Thiên), Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên (một số truyền thống liệt kê riêng), Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô.

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.

Một hào quang vô lượng, quảng đại, vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.

Đức Phật liền nói: “Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Aññāsi vata bho Koṇḍañño! Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Từ đó Koṇḍañña được gọi tên là Aññāta-Koṇḍañña ("Koṇḍañña đã thấu hiểu"), có nghĩa là “Koṇḍañña là người đã giác ngộ”.

Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

 

Bài học từ “Kinh Chuyển Pháp Luân” của Đức Phật Thích-ca.

Bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật lịch sử đã dạy cho chúng ta những điều sau đây:

1 - Con đường ở giữa

Đức Phật khẳng định với 5 vị Tỳ Khưu đồng tu khổ hạnh với Ngài trước kia rằng: “Đức Phật đồng ý với quý Tỳ Khưu này việc tham luyến dục lạc là điều không có ích lợi, nhưng Đức Phật thêm vào đó là việc tham luyến lối tu khắc khổ cũng không có lợi” và rồi Đức Phật đưa ra giải pháp: “ Hãy tránh cả hai cực đoan, và chọn con đường ở giữa hai cực đoan này để được đưa đến giác ngộ.”

Khi là Thái tử, Ngài đã trải nghiệm cuộc sống vương giả, đã hưởng thụ dục lạc, yến tiệc linh đình, cung phi mỹ nữ múa hát ngày đêm, có đủ kẻ hầu người hạ, tương lai còn được vua cha trao cho ngai vàng…, nhưng Ngài đã “ngộ” rằng việc tham luyến dục lạc là điều phàm tục, không có lợi ích, không thể kéo dài mãi mãi. Sau đó, trong bước đầu của cuộc đời xuất gia, Ngài đã trải nghiệm cuộc sống của tu sĩ theo cách tu khắc khổ, nhưng thể xác của Ngài suy yếu lần lần nên yinh thần cũng không được minh mẫn, rồi Ngài “ngộ” rằng lối tu khắc khổ cũng không có lợi ích. Do đó Ngài mới chọn “con đường ở giữa” hai thái cực này.

2 - Tứ Diệu Đế

Trọng tâm của Kinh chuyển Pháp luân là lời giảng dạy của Đức Phật về Tứ Diệu Đế (catvāri āryasatyāni; cattāri ariyasaccāni, Four Noble Truths), các Đại sư Trung Hoa còn dịch là Tứ Thánh Đế (Four Holy Truths):

(1) - Khổ Đế (dukkha, Duhkha, the truth of suffering) là chân lý về sự khổ đau: cuộc đời này đầy đau khổ. Các Đại sư Trung Hoa dịch dukkha là  khổ (suffering), dukkha còn có nghĩa rộng như là sự không hài lòng (dissatisfaction), sự căng thẳng (stress)…

 (2) - Khổ Tập  Đế (samudaya dukkha, the cause of suffering): nguyên nhân gây khổ đau là vọng tưởng và bám vào sự vật vô thường.

 (3) - Khổ Diệt Đế (nirodha dukkha, the cessation of suffering): cần phải diệt trừ những vọng tưởng và bỏ sự bám víu vào sự vật vô thường.

 (4) - Diệt khổ Đạo Đế (magga dukkha, the path to the cessation of suffering = the Noble Eightfold Path) là “con đường có 8 chi nhánh” = Bát Chánh Đạo, đây là phương cách để diệt trừ sự bám víu vào các vật vô thường, và do đó sự tái sanh và khổ đau sẽ dứt.

3 - Bát Chánh Đạo

Con đường có 8 chi.

4 - Ngũ uẩn

Năm 5 nhóm yếu tố kết hợp lại tạo thành con người: (1) Sắc uẩn, (2) Thọ uẩn, (3) Tưởng uẩn, (4) Hành uẩn và (5) Thức uẩn. Các “Uẩn” thì liên kết với nhau, tùy thuộc lẫn nhau mà hiện hữu, khi tan rả thì con người cũng không còn sống.

Đức Phật nói “ngũ uẩn” luôn biến đổi không ngừng, ngũ uẩn là vô thường, như vậy “ngũ uẩn” là khổ.

5 - Vô thường

Ngài Koṇḍañña đã ngộ lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường (impermanence) khi Koṇḍañña phát biểu: “Cái gì đã có sanh tất phải có diệt”.

Toronto, 03 December 2016

Nguyễn Vĩnh Thượng

Cựu giáo sư triết học (1969 – 1975) tại các trường Trung Học Petrus Ký, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn An Ninh, Cần Đước (Long An) và trường Sư Phạm Sài gòn.

 

Tài liệu tham khảo chính yếu

- Cao Hữu Đính, Văn Học Sử Phật Giáo, Huế: tác giả xuất bản, 1970. Đây là bài cours mà GS CHĐ đã soạn giảng cho Sinh viên Đại Học Vạn Hạnh Saigon và Phật Học Viện Nha Trang.

- Hirakawa Akira, A History of Indian Buddhism: from Sakyamuni to Early Mahayana, translated and edited by Paul Groner, Hawaii: University of Hawaii Press, 1974.

- Kogen Mizuno, Buddhist Sutras: Origin, Development, Transmission. Translated by Morio Takanashi & others, adapted by Rebecca M. Davis. Tokyo: Kosei Publishing Co. First English edition, 1982. Sixth printing, 1995.

- Narada, Mahathera, The Buddha and his Teachings, Kandy (Sri Lanka): Buddhist Publication Society, First enlarged edition: 1964, Second revised and enlarged edition: 1973.

- Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn độ, Saigon: Lê Thanh Thư Xã, 1963.

- Thích Tâm Thiện, Tìm hiểu ngôn ngữ Kinh điển Phật giáo, Sài-gòn: NXB TP.HCM, 2000.

 

Cùng một tác giả

Các bài viết đã đăng trên Internet bởi các trang Web: Thư viện Hoa sen, Chùa Adida (Australia), Trang nhà Quảng Đức, Tống Phước Hiệp-Vĩnh Long, Petrus Ký-LHP, An phong-An bình…:

- Ảnh hưởng Phật giáo trong pháp luật triều Lý, 1971.

- Tư tưởng Phật giáo trong văn học đời Lý, 1996 (Sách).

- Phật giáo như là một triết học hay như là một tôn giáo, 2014.

- Cuộc đời của Đức Phật Thích-ca, 2014.

- Việc phiên dịch Kinh điển Phật giáo ra chữ Quốc ngữ, 2016.

- Việc phiên dịch Kinh điển Phật giáo ra chữ Hán, 2016.

- Ngụy Kinh trong thời kỳ Phật giáo Phát triển, 2016.

- Biểu nhất lảm Tam tạng Kinh điển Phật giáo, 2016.

- Về một nhà giáo thời VNCH: GS TS Nguyễn Thanh Liêm, 2010.

- Lời giới thiệu về Nhà văn Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, 2014.

- Thầy Tạ Ký- Nhà giáo và Nhà thơ, 2015.

- Tuyển tập Biên khảo Nguyễn Vĩnh Thượng, 2016 (Sách PDF & EPUB)

v…v…


(Bản đọc thuộc) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta Lúc ấy tôi có   nghe như vầy (evaṃ me sutaṃ): Vào một thời nọ, Đức Thế Tôn ở tại vư...