Thursday, October 15, 2026

Những lão nông "gàn dở" là Bồ-Tát hiện thân Dashrath Manjhi (1934 – 2007) - Trần Văn Tiên - Thào A Lềnh

Dashrath Manjhi (1934 – 2007), thường được biết đến với biệt danh "Mountain Man" (Người đàn ông xẻ núi), là một người lao động nghèo ở làng Gehlaur, gần thành phố Gaya, bang Bihar, Ấn Độ. Câu chuyện phi thường của ông về tình yêu, sự kiên trì và nghị lực phi thường đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới.  

Bi kịch khởi nguồn

Làng Gehlaur của Manjhi nằm cách biệt bởi một dãy núi đá quartzite gồ ghề và hiểm trở. Muốn đi từ làng đến thị trấn gần nhất (Wazirganj) để tiếp cận bệnh viện, trường học hay chợ, người dân phải đi đường vòng dài tới 55 km.  

Năm 1959, vợ ông là bà Falguni Devi bị trượt chân ngã chấn thương nặng khi đang vượt qua rặng núi để mang cơm và nước cho ông. Do đường xá xa xôi, việc đưa bà đến bệnh viện bị trễ và bà đã qua đời. Đau đớn trước cái chết của vợ và không muốn bất kỳ ai trong làng phải gánh chịu số phận tương tự, Manjhi đã đưa ra một quyết định tưởng chừng như điên rồ: tự tay đục xuyên qua ngọn núi để mở một con đường thẳng.  

Hành trình 22 năm xẻ núi

Công cụ thô sơ: Bắt đầu từ năm 1960, ông bán 3 con dê của gia đình để mua một chiếc búa, một cái đục và một xà beng.  

Nỗ lực kiên trì: Ban đầu, dân làng coi ông là kẻ điên. Ông vừa đi làm thuê kiếm sống, vừa tận dụng mọi thời gian rảnh rỗi từ sáng sớm đến đêm muộn để đục đá. Nhìn thấy sự kiên trì bền bỉ của ông theo năm tháng, dân làng dần khâm phục và bắt đầu hỗ trợ ông thức ăn cũng như công cụ.  

Thành quả: Sau 22 năm (1960 – 1982) miệt mài gõ từng thớ đá, ông đã hoàn thành một con đường xuyên qua rặng núi:  

Chiều dài: ~110 m  

Chiều rộng: ~9,1 m  

Độ sâu: Chỗ sâu nhất tới 7,7 m  

Con đường này đã rút ngắn khoảng cách đi lại từ làng Gehlaur tới thị trấn Wazirganj từ 55 km xuống còn 15 km, giúp người dân trong vùng dễ dàng tiếp cận y tế, giáo dục và thương mại.  

Di sản và Vinh danh

Qua đời & Tang lễ cấp bang: Dashrath Manjhi qua đời ngày 17/08/2007 tại Viện Khoa học Y khoa Toàn Ấn (AIIMS), New Delhi do ung thư túi mật. Chính quyền bang Bihar đã tổ chức tang lễ cấp bang trang trọng để tri ân đóng góp to lớn của ông.  

Chính thức hóa con đường: Sau khi ông mất, chính quyền mới hoàn thiện và rải nhựa con đường do ông mở.  

Tem thư kỷ niệm: Năm 2016, Bưu điện Ấn Độ phát hành tem thư in hình Dashrath Manjhi để vinh danh ông.  

Điện ảnh: Câu chuyện của ông được dựng thành bộ phim nổi tiếng do Bollywood sản xuất năm 2015 có tên Manjhi – The Mountain Man (với diễn viên Nawazuddin Siddiqui thủ vai Manjhi).

***

Cụ Trần Văn Tiên (Lâm Đồng) – "Lão gàn" 10 năm tự san đồi, mở đường cho dân bản

Địa điểm: Xã Đạ M'rông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.  

Hoàn cảnh: Bản làng bị cô lập bởi những dốc núi thẳng đứng và khe sâu, việc đi lại vô cùng nguy hiểm, người dân và học sinh muốn ra ngoài phải đi vòng rất xa.

Hành động: Dù tuổi đã cao, ông Tiên đã một mình vác cuốc, xà beng, xẻng ròng rã suốt hơn 10 năm trời để bạt núi, san đồi, lấp vực.  

Kết quả: Ông đã tự tay mở được con đường dài hàng kilômét giúp dân bản và trẻ em đi học an toàn. Dù ban đầu bị coi là "gàn dở", nhưng sự kiên trì của ông sau đó đã lay động chính quyền và người dân địa phương cùng chung tay rải bê tông hoàn thiện con đường.

***

Lão nông Thào A Lềnh (Sơn La) – Tự đục vách đá mở đường vượt dốc hiểm

Địa điểm: Vùng cao tỉnh Sơn La (Tây Bắc).

Hoàn cảnh: Bản làng nằm trên đỉnh núi cao, con đường duy nhất dẫn xuống chợ và trường học là vách đá tai mèo dựng đứng, trơn trượt vào mùa mưa.  

Hành động: Với công cụ thô sơ là búa, đục và xà beng, ông Lềnh đã kiên trì hàng năm trời bạt từng thớ đá, đục từng bậc thang và mở rộng lối đi qua vách núi hiểm trở.  

Ý nghĩa: Việc làm thầm lặng của ông giúp giảm thiểu rủi ro tai nạn cho người dân trong bản khi vận chuyển nông sản và đưa trẻ em đến trường.

Wednesday, October 14, 2026

(bản rút gọn, có thể dễ thuộc hơn) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

(bản rút gọn, có thể dễ thuộc hơn) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Lúc ấy tôi có nghe như vầy:

Vào một thời nọ, Đức Thế Tôn ngự tại vườn Lộc Giả là nơi phóng sanh đàn nai, cũng là nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī.

Đức Phật gọi năm vị Bhikkhu (Bíc-khu = Tỳ比 Khưu丘) và dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh, không nên thực hành theo:

(1) Một là chìm đắm trong dục lạc – thấp hèn, thô thiển, phàm tục, không xứng bậc Thánh, vô ích.

(2) Hai là sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh - gây ra khổ sở, không xứng bậc Thánh, vô ích.

Các Tỳ Khưu xuất gia hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.

Rời xa hai cực đoan, Như Lai đã chứng ngộ con đường trung đạo là con đường ở giữa. Như Lai đã tinh tấn thực hành để phát triển nhãn quan, và sự hiểu biết phân minh, để tiến đến sự an tịnh, đưa đến trí huệ cao siêu, giác ngộ và Niết-bàn. Đó là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo là con đường có tám thành tố: (1) Chánh Tri Kiến - Sammā diṭṭhi - Thấy biết đúng đắn; (2) Chánh Tư Duy - Sammā saṅkappa - Suy nghĩ hợp lý; (3) Chánh Ngữ - Sammā vācā - Nói năng hợp lẽ; (4) Chánh Nghiệp - Sammā kammanta - Hành vi hợp đạo; (5) Chánh Mạng - Sammā ājīva - Nuôi mạng hợp pháp; (6) Chánh Tinh Tấn - Sammā vāyāma - Siêng năng chăm chỉ; (7) Chánh Niệm - Sammā sati - Chú ý tỉnh thức đúng mực - đừng để vọng tưởng lôi kéo; (8) Chánh Định - Sammā samādhi - Tâm trí ổn định - Tu thiền định.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Như Lai đã tự chứng ngộ Tứ Diệu Đế mà trước đây chưa từng được nghe tức là bốn chân lý cao thượng Khổ, Tập, Diệt và Đạo.

1) Bây giờ, đây là chân lý thứ nhứt chính là chân lý cao thượng về sự khổ: Khổ Đế: Ở đời có tám cái khổ: (1) Sanh là khổ; (2) Lão là khổ; (3) Bịnh là khổ; (4) Chết là khổ; (5) Buồn phiền, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng đều là khổ; (6) Ghét nhau mà phải giáp mặt là khổ; (7) Thương nhau mà phải biệt ly là khổ; (8) Mong cầu mà không được là khổ. Nói tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Năm uẩn gồm (1) sắc, (2) thọ, (3) tưởng, (4) hành, (5) thức cấu thành con người; khi bị chấp thủ, chúng là nền tảng của khổ.

2) Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ - cái gì gây ra khổ: Tập Đế: Tham ái là nguyên nhân của khổ. Sự ham muốn với vật chất trong đời và luyến ái với tình cảm từ thân cho đến sơ. Tham ái dẫn đến sự tái sinh hoặc trở thành tiếp theo, đi kèm sự ham thích và say đắm, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là: (1) Dục ái; (2) Hữu ái (hữu sanh ái) và (3) Phi hữu ái (vô sanh ái) - tham ái hướng đến sự không tồn tại hoặc chấm dứt sự tồn tại.

3) Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về sự đoạn diệt các nguyên nhân của khổ: Diệt Đế: Đây là sự đoạn diệt hoàn toàn tham ái, sự từ bỏ, buông bỏ, giải thoát và không còn chấp thủ đối với tham ái ấy.

4) Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự tận diệt các nguyên nhân của khổ: Đạo Đế: Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, để hiểu thấu rõ Tứ Diệu Đế, Như Lai thực hiện tam chuyển Pháp luân cho mỗi Đế. Có tứ Đế, mỗi Đế có tam chuyển, do đó thành ra có thập nhị hành tướng.

Đây là tam chuyển Pháp luân của Khổ Đế: Nhãn quan, Tri kiến, Trí huệ, Minh sát huệ và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đó là các pháp: (1.1 Thị Chuyển) Đây là chân lý cao thượng về sự Khổ: Khổ Đế. (1.2 Khuyến Chuyển) Khổ Đế này cần phải được thấu hiểu. (1.3 Chứng Chuyển) Khổ Đế này đã được thấu hiểu.

Đây là tam chuyển Pháp luân của Tập Đế: Nhãn quan, Tri kiến, Trí huệ, Minh sát huệ và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đó là các pháp: (2.1 Thị Chuyển) Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ: Tập Đế. (2.2 Khuyến Chuyển) Tham ái cần phải được loại bỏ hoàn toàn (tận diệt). (2.3 Chứng Chuyển) Tham ái đã được đoạn tận (tận diệt, loại bỏ hoàn toàn).

Đây là tam chuyển Pháp luân của Diệt Đế: Nhãn quan, Tri kiến, Trí huệ, Minh sát huệ và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đó là các pháp: (3.1 Thị Chuyển) Đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận các nguyên nhân của khổ: Diệt Đế. (3.2 Khuyến Chuyển) Diệt Đế này cần phải được chứng ngộ. (3.3 Chứng chuyển) Diệt Đế này đã được chứng ngộ.

Đây là tam chuyển Pháp luân của Đạo Đế: Nhãn quan, Tri kiến, Trí huệ, Minh sát huệ và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đó là các pháp: (4.1 Thị Chuyển): Đây là chân lý cao thượng về con đường thực hiện việc diệt tận các nguyên nhân của khổ: Đạo Đế: Bát Chánh Đạo. (4.2 Khuyến Chuyển) Đạo Đế cần phải được liên tục tu tập triệt để. (4.3 Chứng Chuyển) Bát Chánh Đạo đã được tu tập triệt để.

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân cho tứ Đế - thập nhị hành tướng, để xác nhận chánh Pháp, Đức Phật dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế với tam chuyển và đủ mười hai hành tướng một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, con người và các loài chúng sanh rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Chỉ đến khi Như Lai hoàn toàn thấu triệt Bốn Thánh Đế với tam chuyển và đủ mười hai hành tướng một cách hoàn toàn sáng tỏ thì lúc đó Như Lai mới xác nhận trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, con người và các loài chúng sanh rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng Tri kiến và Tuệ giác phát sanh đến Như Lai, Tâm của Như Lai được hoàn toàn giải thoát vững chắc và hoàn toàn bất động - không còn lay chuyển. Và đây là lần sanh cuối cùng, không còn tái sanh  nữa.

Đức Phật giảng như thế ấy, các vị Bhikkhu (Bíc-khu = Tỳ比 Khưu丘) hoan hỉ và tín thọ lời Phật dạy.

Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, Pháp nhãn của ngài Koṇḍañña (Kiều-Trần-Như) thanh tịnh, không còn vướng bụi, hết bẩn nhơ, không cấu uế, và ngài chứng ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải hoại diệt” - "phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt."

Lúc Đức Phật chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên cõi đất này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī.”

Nghe thấy lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ Đại Thiên Vương, cõi trời Tam Thập Tam, cõi trời Yāma, cõi trời Tusita, cõi trời Hóa Lạc Thiên, cõi trời Tha Hóa Tự Tại Thiên cũng đồng thanh hoan hô: “Tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như vậy.”

Nghe thấy lời vừa tán dương trên, chư Phạm Thiên ở Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên, Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên cũng đồng thanh hoan hô: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Bārāṇasī, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời."

Nghe thấy lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở cảnh vô sắc Thiên là Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī.”

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả mười ngàn thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.

Một hào quang vô lượng, quảng đại, vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.

Đức Phật liền nói: “Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Aññāsi vata bho Koṇḍañño! Koṇḍañña quả đã giác ngộ!" Từ đó tôn giả Koṇḍañña được gọi tên là Aññāta-Koṇḍañña ("Koṇḍañña đã thấu hiểu"), có nghĩa là “Koṇḍañña là người đã giác ngộ”.

Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

Tuesday, October 13, 2026

(bản đọc thuận dễ thuộc hơn) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

(bản đọc thuận dễ thuộc hơn) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Lúc ấy tôi có nghe như vầy:

Vào một thời nọ, Đức Thế Tôn ngự tại vườn Lộc Giả là nơi phóng sanh đàn nai, cũng là nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī.

Đức Phật gọi năm vị Bhikkhu (Bíc-khu = Tỳ比 Khưu丘) và dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh, không nên thực hành theo:

(1) Một là chìm đắm trong hưởng thụ dục lạc: Đó là điều thấp hèn - hạ liệt, thô bỉ - đê tiện, phàm tục - phàm phu, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích - không liên hệ đến mục đích.

(2) Hai là sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh - khắc khổ: Đó là điều gây ra khổ sở, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích - không liên hệ đến mục đích.

Các Tỳ Khưu xuất gia hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.

Rời xa hai cực đoan, Như Lai đã chứng ngộ con đường trung đạo là con đường ở giữa:

Con đường trung đạo là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng. Do Như Lai chánh giác tin tấn thực hành để phát triển nhãn quan - tác thành mắt, và phát triển sự hiểu biết phân minh - tác thành trí, tiến đến sự an tịnh, đưa đến trí huệ cao siêu - thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã chứng ngộ là sự tu hành để phát triển nhãn quan - tác thành mắt, phát triển tri kiến - tác thành trí, đưa đến sự an tịnh, trí huệ cao siêu - thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn là gì? – Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo là con đường có tám thành tố (eightfold):

(1) Chánh Tri Kiến - Sammā ditthi - Thấy biết đúng đắn; (2) Chánh Tư Duy - Sammā saṅkappa - Suy nghĩ hợp lý; (3) Chánh Ngữ - Sammā vaca - Nói năng hợp lẽ; (4) Chánh Nghiệp - Sammā kammanta - Hành vi hợp đạo; (5) Chánh Mạng - Sammā ajiva - Nuôi mạng hợp pháp; (6) Chánh Tinh Tấn - Sammā Vayama - Siêng năng chăm chỉ; (7) Chánh Niệm - Sammā sati - Chú ý đúng mực; (8) Chánh Định - Sammā Samadhi - Tâm trí ổn định.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Đó là con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Bây giờ, đây là chân lý thứ nhứt chính là chân lý cao thượng về sự khổ: Khổ Thánh Đế.

Ở đời có tám cái khổ: (1) Sanh ra đời là khổ; (2) Lão/ già là khổ; (3) Bệnh/ bịnh là khổ; (4) Tử/ chết là khổ; (5) Buồn phiền, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng đều là khổ; (6) Oán tắng hội khổ - ghét nhau mà phải giáp mặt là khổ; (7) Ái biệt ly khổ - thương nhau mà phải biệt ly là khổ; (8) Cầu bất đắc khổ - mong cầu mà không được là khổ.

Tóm lại, chấp thân ngũ uẩn là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng nên gây ra khổ.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ: Khổ Tập Thánh Đế.

Tham ái là nguyên nhân của mọi đau khổ. Chính là ái này đưa đến tái sanh. Cầu hữu với hỷ và tham. Tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là "dục ái", "hữu ái", "phi hữu ái".

(1) Một là dục ái: Là sự ham muốn, dính mắc vào các dục lạc của ngũ trần - còn gọi là ngũ trần nhục dục. Ngũ trần là: (1) Sắc trần là cảnh bị thấy bởi mắt (Nhãn căn); (2) Thinh (thanh) trần là âm thanh bị nghe bởi tai (Nhĩ căn); (3) Hương trần là mùi bị hửi bởi mũi (Tỷ căn); (4) Vị trần là vị bị nếm bởi lưỡi (Thiệt căn); (5) Xúc trần là xúc bị chạm bởi thân (Thân căn).

(2) Hai là hữu sanh ái (hữu ái) (thường kiến): Ái đeo níu theo sự sinh tồn. Sự khao khát được tồn tại, được trở thành, được tiếp tục hiện hữu trong một trạng thái hay cảnh giới nào đó.

(3) Ba là vô sanh ái (phi hữu ái) (đoạn kiến): Sự vướng mắc vào quan điểm cho rằng sau cái chết là không còn gì cả.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về sự diệt nguyên nhân của khổ: Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn các ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt nguyên nhân của khổ: Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đạo diệt khổ tập thánh đế đó chính là Bát Chánh Đạo: (1) Chánh Tri Kiến - Sammā ditthi - Thấy biết đúng đắn; (2) Chánh Tư Duy - Sammā saṅkappa - Suy nghĩ hợp lý; (3) Chánh Ngữ - Sammā vaca - Nói năng hợp lẽ; (4) Chánh Nghiệp - Sammā kammanta - Hành vi hợp đạo; (5) Chánh Mạng - Sammā ajiva - Nuôi mạng hợp pháp; (6) Chánh Tinh Tấn - Sammā Vayama - Siêng năng chăm chỉ; (7) Chánh Niệm - Sammā sati - Chú ý đúng mực; (8) Chánh Định - Sammā Samadhi - Tâm trí ổn định.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, để hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Như Lai thực hiện tam chuyển Pháp luân cho mỗi Đế. Có tứ Đế, mỗi Đế có tam chuyển, do đó thành ra có thập nhị hành tướng.

1. Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là tam chuyển Pháp luân của Khổ Đế:

a. Thị Chuyển: Đây là chân lý về sự Khổ: Khổ Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về sự Khổ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về sự Khổ.)

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải thấu hiểu Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này cần phải được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về Khổ Thánh Đế này cần phải được liễu tri. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về Khổ Thánh Đế này cần phải được liễu tri.)

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này đã được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về Khổ Thánh Đế này đã được liễu tri. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về Khổ Thánh Đế này đã được liễu tri.)

2. Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là tam chuyển Pháp luân của Khổ Tập Đế:

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về nguyên nhân của khổ: Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ.)

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải loại bỏ hoàn toàn các nguyên nhân của sự khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ cần phải đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ cần phải được loại bỏ hoàn toàn. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ cần phải được loại bỏ hoàn toàn.)

c. Chứng chuyển: Như Lai đã tận diệt các nguyên nhân của khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ đã được đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Khổ Tập Thánh Đế này đã được đoạn tận. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Khổ Tập Thánh Đế này đã được đoạn tận.)

3. Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là tam chuyển Pháp luân của Diệt Khổ Tập Đế:

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về diệt nguyên nhân của khổ: Diệt Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận các nguyên nhân của khổ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận các nguyên nhân của khổ.)

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải chứng ngộ sự diệt bỏ những nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này cần phải được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về sự diệt tận các nguyên nhân của khổ cần phải được chứng ngộ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về sự diệt tận các nguyên nhân của khổ cần phải được chứng ngộ.)

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng ngộ sự diệt các nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được chứng ngộ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được chứng ngộ.)

4. Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là tam chuyển Pháp luân của Đạo Diệt Khổ Tập Đế:

a. Thị chuyển: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ: Đạo Diệt Khổ Tập Đế (=Bát Chánh Đạo). Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ.)

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải phát triển con đường diệt tận các nguyên nhân của khổ. Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế cần phải được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về con đường diệt các nguyên nhân của khổ cần phải được tu tập. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Chân lý cao thượng về con đường diệt các nguyên nhân của khổ cần phải được tu tập.)

c. Chứng chuyển: Như Lai đã thực nghiệm và đã phát triển con đường diệt tận mọi nguyên nhân của khổ đau. Bát Chánh Đạo đã được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Nhãn quan phát sanh, Tri kiến phát sanh, Trí huệ phát sanh, Minh sát huệ phát sanh và Ánh sáng phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được tu tập. (Nhãn sanh, Trí sanh, Huệ sanh, Minh sanh và Quang phát sanh đến Như Lai về các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe: Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được tu tập.)

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân cho tứ Đế - thập nhị hành tướng, để xác nhận chánh Pháp, Đức Phật dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế với tam vận chuyển (sắc thái) và đủ mười hai hành tướng (phương thức) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, con người và các loài chúng sanh rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Hỡi này các Tỳ Khưu! chỉ đến khi Như Lai hoàn toàn thấu triệt Bốn Diệu Đế/ Bốn Thánh Đế với tam vận chuyển (sắc thái) và đủ mười hai hành tướng (phương thức) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì lúc đó Như Lai mới xác nhận trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, con người và các loài chúng sanh rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng Tri kiến và Tuệ giác phát sanh đến Như Lai, Tâm của Như Lai được hoàn toàn giải thoát vững chắc và hoàn toàn bất động - không còn lay chuyển. Và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn kiếp sanh tồn nào khác nữa.

Đức Phật giảng như thế ấy, các vị Tỳ Khưu thấy vui mừng trong lòng hoan hỉ tán dương lời của Đức Thế Tôn, tín thọ lời Phật dạy.

Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, Pháp nhãn của ngài Koṇḍañña (Kiều-Trần-Như) thanh tịnh, không còn vướng bụi, hết bẩn nhơ, không cấu uế, và ngài chứng ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải hoại diệt” - "phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt."

Lúc Đức Phật chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên hành tinh này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī.”

Nghe lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ-Đại-Thiên-Vương cũng đồng thanh hoan hô: “Tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ Isipatana, gần thành Bārāṇasī, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như vậy.”

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tứ Đại Thiên Vương thiên, chư thiên ở cõi trời Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) cũng đồng thanh hoan hô: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Bārāṇasī, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) thiên, chư thiên Yāma cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, ở gần Bārāṇasī."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Yāma thiên, chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên)  cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Bārāṇasī, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên), chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, ở gần Bārāṇasī."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Bārāṇasī, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên), chư Phạm thiên ở Brahma-pārisajja (Phạm Chúng Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ Isipatana, ở gần Bārāṇasī."

Chư Phạm thiên ở Brahma-purohita (Phạm Phụ Thiên), Mahābrahmā (Đại Phạm Thiên), Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên (một số truyền thống liệt kê riêng), Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô.

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.

Một hào quang vô lượng, quảng đại, vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.

Đức Phật liền nói: “Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Aññāsi vata bho Koṇḍañño! Koṇḍañña quả đã giác ngộ!" Từ đó tôn giả Koṇḍañña được gọi tên là Aññāta-Koṇḍañña ("Koṇḍañña đã thấu hiểu"), có nghĩa là “Koṇḍañña là người đã giác ngộ”.

Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420. 

Monday, October 12, 2026

(Bản đọc thuộc) KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhamma-cakka-ppavattana-Sutta

Lúc ấy tôi có nghe như vầy (evaṃ me sutaṃ):

Vào một thời nọ, Đức Thế Tôn ở tại vườn Lộc Giả - nơi phóng sanh đàn nai, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res.

Đức Phật gọi năm vị Tỳ Khưu và dạy rằng:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh, không nên thực hành theo:

*Một là chìm đắm trong hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures). Đó là điều thấp hèn (hạ liệt), thô bỉ (đê tiện), phàm tục (phàm phu), không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

*Hai là sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh khắc khổ (harsh austerity). Đó là điều gây khổ sở, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô ích (không liên hệ đến mục đích).

Các Tỳ Khưu hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.

Rời xa hai cực đoan, Như Lai đã chứng ngộ con đường trung đạo là con đường ở giữa:

Con đường trung đạo là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng. Do Như Lai chánh giác để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), và sự hiểu biết phân minh (tác thành trí), tiến đến sự an tịnh, đưa đến trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và niết-bàn.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã chứng ngộ (do Như Lai chánh giác) là sự tu hành để phát triển nhãn quan (tác thành mắt), tri kiến (tác thành trí), đưa đến sự an tịnh, trí huệ cao siêu (thắng trí), giác ngộ và Niết-bàn là gì? – Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo là con đường có tám (8) thành tố (eightfold):

1 - Chánh Tri Kiến (正見, Samma ditthi, Right view): Thấy biết đúng đắn.

2 - Chánh Tư Duy (正思唯, Samma sathkappa, Right intention): Suy nghĩ hợp lý.

3 - Chánh Ngữ ( 正語, Samma vaca, Right speech): Nói năng hợp lẽ.

4 - Chánh Nghiệp (正業, Samma kammanta, Right action): Hành vi hợp đạo.

5 - Chánh Mạng (正命, Samma ajiva, Right Livehood): Nuôi mạng hợp pháp.

6 - Chánh Tinh Tấn (正精進, Samma Vayama, Right Effort): Siêng năng chăm chỉ.

7 - Chánh Niệm (正念, Samma sati, Right Mindfulness): Chú ý đúng mực.

8 - Chánh Định (正定, Samma Samadhi, Right Concentration): Tâm trí ổn định.

Hỡi này các Tỳ Khưu! Đó là con đường trung đạo mà Như Lai đã chứng ngộ. Do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Hỡi này các Tỳ Khưu! Bây giờ Như Lai giảng về chân lý cao thượng về sự khổ (Duḥkhā ryasatya, the Noble truth of Suffering) Khổ Thánh Đế.

Có tám (8) cái khổ như sau:

(1) Sanh là sự hợp lại của ngũ uẩn: Sanh là khổ;

(2) Lão/già là khổ;

(3) Bệnh/ bịnh là khổ;

(4) Tử/chết là sự tan rã Ngũ Uẩn: Tử là khổ;

(5) Buồn rầu (sầu bi), lo lắng (ưu não), thất bại, rối loạn tâm thần là khổ;

(6) Oán tắng hội khổ: Tức là ghét nhau mà phải giáp mặt nhau là khổ;

(7) Ái biệt ly khổ: Tức là thương nhau mà phải biệt ly là khổ;

(8) Cầu bất đắc khổ: Tức là mong cầu mà không được là khổ.

Nói cách khác (tóm lại), (5 thụ uẩn) chấp thân ngũ uẩn (five psycho-physical condition groups) là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng gây ra khổ.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ (Dukkha samudaya ariya sacca, Noble Truth of the cause) Khổ Tập Thánh Đế.

Tham ái là nguyên nhân của mọi đau khổ. Chính là ái này đưa đến tái sanh. Cầu hữu với hỷ và tham. Tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là "dục ái", "hữu ái", "phi hữu ái".

Tham ái có ba (3) dạng:

(1) Một là dục ái (Kāma-taṇhā): Sự ham muốn, dính mắc vào các dục lạc của ngũ trần - còn gọi là ngũ trần nhục dục. Ngũ trần là:

(1) Sắc trần là cảnh bị thấy bởi mắt (Nhãn căn);

(2) Thinh (thanh) trần là âm thanh bị nghe bởi tai (Nhĩ căn);

(3) Hương trần là mùi bị hửi bởi mũi (Tỷ căn);

(4) Vị trần là vị bị nếm bởi lưỡi (Thiệt căn);

(5) Xúc trần là xúc bị chạm bởi thân (Thân căn).

Ái dục của đời sống: sắc đẹp, âm thanh, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm dễ chịu và các đối tượng hấp dẫn.

(2) Hai là hữu sanh ái (hữu ái) (Bhava-taṇhā): Ái đeo níu theo sự sinh tồn. Sự khao khát được tồn tại, được trở thành, được tiếp tục hiện hữu trong một trạng thái hay cảnh giới nào đó.

(3) Ba là vô sanh ái (phi hữu ái) (Vibhava-taṇhā): Sự vướng mắc vào quan điểm cho rằng sau cái chết là không còn gì cả.

Các tham ái đó là nguyên nhân của khổ đau.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha-nirodha-ariya Sacca, Noble Truth of Ending Suffering) Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn các ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha nirodhaga-mini-patipada-ariya-sacca, Noble Truth of the way leading to the cessation of suffering) Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế.

Đạo diệt khổ tập thánh đế đó chính là Bát Chánh Đạo: (1) Chánh Tri Kiến - Thấy biết đúng đắn; (2) Chánh Tư duy - Suy nghĩ hợp lý; (3) Chánh Ngữ - Nói năng hợp lẽ; (4) Chánh Nghiệp - Hành vi hợp đạo; (5) Chánh Mạng - Nuôi mạng hợp pháp; (6) Chánh Tinh Tấn - Siêng năng chăm chỉ; (7) Chánh Niệm - Chú ý đúng mực; (8) Chánh Định - Tâm trí ổn định.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, để hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Như Lai thực hiện tam chuyển (tipariva, three phases/ stages) Pháp luân cho mỗi Đế. Có tứ (4) Đế, mỗi Đế có tam (3) chuyển, do đó thành ra có thập nhị (12) hành tướng (dvadasakara, twelve aspects).

1. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Khổ Đế

a. Thị Chuyển: Đây là chân lý về sự Khổ: Khổ Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan, tri kiến, trí huệ, minh sát huệ và ánh sáng phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải nhận thức Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này cần phải được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Thánh Đế này. Khổ Thánh Đế này đã được liễu tri. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

2. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Khổ Tập Đế

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về nguyên nhân của khổ: Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải tận diệt các nguyên nhân của sự khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ cần phải đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã tận diệt các nguyên nhân của khổ. Khổ Tập tức là các nguyên nhân của khổ đã được đoạn tận. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

3. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Diệt Khổ Tập Đế:

a. Thị chuyển: Đây là chân lý về diệt nguyên nhân của khổ: Diệt Khổ Tập Thánh Đế. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải chứng ngộ sự diệt bỏ những nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này cần phải được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã chứng ngộ sự diệt các nguyên nhân của khổ. Diệt Khổ Tập Thánh Đế này đã được chứng ngộ. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

4. Đây là tam (3) chuyển Pháp luân của Đạo Diệt Khổ Tập Đế

a. Thị chuyển: Đây là con đường thực hiện việc diệt các nguyên nhân của khổ: Đạo Diệt Khổ Tập Đế (=Bát Chánh Đạo). Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

b. Khuyến chuyển: Các Tỳ Khưu phải phát triển con đường diệt tận các nguyên nhân của khổ. Đạo Diệt Khổ Tập Thánh Đế cần phải được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

c. Chứng chuyển: Như Lai đã thực nghiệm (to be practised) và đã phát triển (to be developed) con đường diệt tận mọi nguyên nhân của khổ đau. Bát Chánh Đạo đã được tu tập. Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu! Đối với các Pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe. Nhãn quan (seeing), tri kiến (understanding), trí huệ (wisdom), minh sát huệ (true knowledge) và ánh sáng (light) phát sanh đến Như Lai (Nhãn, Trí, Huệ, Minh, Quang phát sanh đến Như Lai).

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân (tiparivă, three stages/ phases) - thập nhị hành (dvadasakara, twelve aspects), để kết luận thời Pháp, Đức Phật Thích-ca giảng tiếp:

Hỡi này các Tỳ Khưu! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages/ phases) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samma Sambodhi, The highest Awakening).

Hỡi này các Tỳ Khưu! đến khi Như Lai thấu triệt Bốn Diệu Đế/ Bốn Thánh Đế (insight and understanding of the Four Noble Truths/Four Holy Truths), với ba (3) vận chuyển (sắc thái) (three stages) và đủ mười hai (12) hành tướng (phương thức) (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì đến lúc đó Như Lai mới xác nhận trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), Con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng lúc ấy tri kiến và tuệ giác phát sanh đến Như Lai, thì tâm của Như Lai được hoàn toàn giải thoát vững chắc và không còn lay chuyển và hoàn toàn bất động. Và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn kiếp sanh tồn nào khác nữa.

Đức Phật giảng như thế ấy, các vị Tỳ Khưu thấy vui mừng trong lòng hoan hỉ tán dương lời của Đức Thế Tôn, tín thọ lời Phật dạy. Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, Pháp nhãn của ngài Koṇḍañña (Kiều-Trần-Như) thanh tịnh, không còn vướng bụi, hết bẩn nhơ, không cấu uế (Dhamma Cakkhu, Pure eye of Dhamma); và ngài chứng ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải hoại diệt” "phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt" (everything is of a nature to arise is likewise of a nature to cease).

Lúc Đức Phật chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên hành tinh này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res.”

Nghe lời vừa tán dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ-Đại-Thiên-Vương (Catum-Maha-Rajika, Four Kings) cũng đồng thanh hoan hô: “tại vườn Lộc Giả, tại nơi chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, gần thành Be-na-res, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng.”

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tứ Đại Thiên Vương thiên, chư thiên ở cõi trời Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) cũng đồng thanh hoan hô: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên ở Tam Thập Tam (cõi trời Đao Lợi) thiên, chư thiên Yāma cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Yāma thiên, chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên)  cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Tusita (Đâu Suất Thiên), chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở gần Be-na-res, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, tại vườn Lộc Giả, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.

Sau khi nghe tiếng của chư thiên Paranimmita-vasavatti (Tha Hóa Tự Tại Thiên), chư Phạm thiên ở Brahma-pārisajja (Phạm Chúng Thiên) cũng lớn tiếng nói lên: "Pháp luân này quả thật tuyệt diệu. Không có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay Phạm thiên nào trên thế gian có thể giảng được, Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp luân này trong vườn Lộc Giả, chỗ chư tiên đọa xứ I-si-pa-ta-na, ở gần Be-na-res."

Chư Phạm thiên Brahma-purohita (Phạm Phụ Thiên), Mahābrahmā (Đại Phạm Thiên), Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên (một số truyền thống liệt kê riêng), Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô.

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.

Một hào quang vô lượng, quảng đại, vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.

Đức Phật liền nói: “Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Aññāsi vata bho Koṇḍañño! Koṇḍañña quả đã giác ngộ! Từ đó tôn giả Koṇḍañña được gọi tên là Aññāta-Koṇḍañña ("Koṇḍañña đã thấu hiểu"), có nghĩa là “Koṇḍañña là người đã giác ngộ”.

Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

Những lão nông "gàn dở" là Bồ-Tát hiện thân Dashrath Manjhi (1934 – 2007) - Trần Văn Tiên - Thào A Lềnh

Dashrath Manjhi (1934 – 2007), thường được biết đến với biệt danh "Mountain Man" (Người đàn ông xẻ núi), là một người lao động ngh...