KINH CHUYỂN
PHÁP LUÂN tức là Bài Kinh Vận Chuyển Bánh Xe Pháp - là Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức
Phật Thích Ca
Phần I - Nhập đề:
Thái tử Siddhattha
(tiếng Pali), hay Siddhārtha Gautama (tiếng Sanskrit) (tiếng Hoa ngữ phiên âm là
Tất-đạt-đa) được sanh ra trong gia đình hoàng tộc. Khi trưởng thành thái tử đã lấy
vợ và sanh con. Nhẽ ra ngài sẽ kế thừa ngai vàng. Nhưng tới năm 29 tuổi, ngài rời
hoàng cung để xuất gia tu hành. Ban đầu ngài tu khổ hạnh cùng với 5 người Kondanna
(tiếng Hoa phiên âm là Kiều Trần Như), Bhaddiya, Vappa, Mahanama, và Asaji.
Sau 6 năm tu khổ hạnh, đến năm 35 tuổi, cơ thể suy kiệt, ngài nhận thấy con đường
tu khổ hạnh không mang lại kết quả gì. Ngài liền rời bỏ lối tu khổ hạnh. Lúc đó
5 người bạn đồng tu thấy vậy liền rời bỏ ngài. Ngài tu một mình và chứng đắc Chánh
đẳng giác ở tuổi 35 trở thành Phật Thích Ca. Sau khi thành Phật, ngài tìm lại 5
người bạn tu và giảng bài kinh này.
Tôn giả Ananda là
thư ký riêng (hay thị giả) của Bụt trong suốt 25 năm cuối đời Đức Phật. Sau khi
Bụt nhập diệt, trong lần kết tập đầu tiên, ngài Ananda đọc lại từ trong trí nhớ
toàn bộ lời bài kinh này.
Tôi nghe như
vầy:
Vào một thời nọ, Đức
Phật Thích Ca ở tại Vườn Lộc Giả (là vườn phóng sanh đàn nai,
hay nơi này còn được gọi là chư tiên đọa xứ), ở xứ I-si-pa-ta-na (hiện nay là
Sarnath), gần thành Be-na-res.
Phần II - Từ bỏ hai cực đoan
Đức Phật gọi 5
thầy Tỳ Kheo đang ngụ ở nơi ấy, họ đã từng là bạn đồng
tu khổ hạnh với ngài trước đây, và dạy rằng:
Này các thầy Tỳ
Kheo! Có hai cực đoan mà các bậc xuất gia phải tránh:
*Một là chìm đắm trong
hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures). Đó là điều thấp hèn, phàm
tục và vô ích.
*Hai là hành xác theo lối
tu khắc khổ (harsh austerity). Đó là điều gây khổ sở và vô ích.
Các thầy hãy từ
bỏ hai cực đoan ấy.
Phần III - Con đường ở giữa - Con đường trung đạo
Như Lai đã tìm
thấy con đường ở giữa - tức là con đường trung đạo. Con đường trung đạo
là ở giữa hai cực đoan ấy, tức là không thiên về một bên nào quá
đáng mà Như Lai đã áp dụng để phát triển nhãn quan, sự hiểu
biết phân minh, tiến đến sự an tịnh đưa đến trí huệ, giác
ngộ và niết-bàn hay con đường dứt khổ.
Phần IV - Bát Chánh Đạo
Này các thầy Tỳ
Kheo! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như
Lai đã ngộ là sự tu hành để phát triển nhãn quan, tri kiến,
đưa đến sự an tịnh, trí huệ cao siêu, giác ngộ và Niết-bàn
là gì? – Đó là Bát Chánh Đạo.
Bát Chánh Đạo là con
đường có tám (8) chi nhánh (eightfold). Tám chi đó là:
1 - Chánh Kiến (正見, Samma ditthi, Right view): Người có chánh kiến là người
hiểu rõ Tứ Diệu Đế. Người có chánh kiến là người thấu hiểu sự vật theo: - thật
tướng vô thường, thật thể vô ngã, thật tánh duyên khởi tức là mọi vật đều liên
kết, đều tuỳ thuộc lẫn nhau mà hiện hữu. Người có chánh kiến là người thấu hiểu
mọi hành động đều có hiệu quả: chết không phải là hết, những hành động và đức
tin đều có cái hậu quả sau khi chết.
2 - Chánh Tư duy (正思唯, Samma sathkappa, Right intention): có nghĩa là mọi suy
nghĩ/ tư duy căn cứ vào Tứ Diệu Đế, căn cứ vào các Pháp: vô thường, khổ, vô ngã.
3 - Chánh Ngữ (
正語, Samma vaca, Right
speech): có nghĩa là lời nói phải hòa nhã, hợp đạo lý, chân chính/ không nói
láo, không nói hai lưỡi, không nói những lời phù phiếm.
4 - Chánh Nghiệp (正業, Samma kammanta, Right action): có nghĩa là hành động từ
bỏ các điều ác, từ bỏ việc làm tổn thương đến người khác, hành động giúp người
khác được lợi, được vui, và cũng giúp chính mình được lợi và an vui.
5 - Chánh Mạng (正命, Samma ajiva, Right Livehood): có nghĩa là sinh sống bằng
những nghề không xúc phạm đến thân mạng và tài sản của người khác.
6 - Chánh Tinh Tấn (正精進, Samma Vayama, Right Effort): có nghĩa là siêng năng làm
điều lành, cố gắng tránh đều ác.
7 - Chánh Niệm (正念, Samma sati, Right Mindfulness): có nghĩa là luôn luôn
nhớ, nghĩ đến điều lành, và nghĩ tới điều ác nên tránh.
8 - Chánh Định (正定, Samma Samadhi, Right Concentration): có nghĩa là
luôn luôn giữ tâm không bị vọng động, giữa tâm thanh tịnh, bình thản, và chú
tâm vào điều tốt.
Phần V - Tứ Diệu Đế
Tứ diệu đế (四妙諦, Catvāry āryasatyāni, Cattāri ariya-saccāni, Four Noble
Truths), là bốn chân lí cao cả/ cao thượng; cũng gọi là tứ thánh
đế (四聖諦, Four Holy
Truths). Đây là trọng tâm của bài thuyết Pháp này.
1. Khổ Đế
Này các thầy Tỳ Kheo!
Bây giờ Như Lai giảng về chân lý cao thượng về sự khổ (Duḥkhā ryasatya, the
Noble truth of Suffering).
Có tám (8) cái khổ
như sau:
(1) Sanh là sự hợp
lại của ngũ uẩn: Sanh là khổ,
(2) Lão/già là
khổ,
(3) Bệnh/ bịnh là
khổ,
(4) Tử/chết là sự
tan rã Ngũ Uẩn: Tử là khổ,
(5) Buồn rầu, lo
lắng, thất bại, rối loạn tâm thần là khổ,
(6) Oán tắng hội khổ:
Tức là ghét nhau mà phải giáp mặt nhau là khổ,
(7) Ái biệt ly khổ:
Tức là thương nhau mà phải biệt ly là khổ,
(8) Cầu bất đắc khổ:
Tức là mong cầu mà không được là khổ.
Nói cách khác, có
thân ngũ uẩn (five psycho-physical condition groups) là khổ,
vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng gây ra khổ.
Ngũ uẩn (五蘊, pañca-skandha, pañca-khandha, five aggregates་), còn gọi
là Ngũ ấm (五陰), pañca là 5;
skandha là nhóm, tiếng Hoa ngữ dịch là uẩn có nghĩa là tích tụ, là (các điều,
các vật) được chất chứa cùng một nhóm.
Ngũ uẩn là năm nhóm yếu tố kết hợp lại tạo thành con người: (A) Phần vật
chất có hình dáng gọi là (1) Sắc uẩn; (B)
Phần tâm lý không có hình dáng, gồm 4 nhóm, gọi là: (2) Thọ uẩn, (3) Tưởng uẩn,
(4) Hành uẩn và (5) Thức uẩn.
2. Tập Khổ Đế
Này các thầy Tỳ
Kheo! Đây là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ (Dukkha
samudaya ariya sacca, Noble Truth of the cause).
Tham ái là nguyên
nhân của mọi đau khổ.
Tham ái có ba (3) dạng:
(1) Dục ái (Kāma-taṇhā):
Sự ham muốn, dính mắc vào các dục lạc của ngũ trần - còn gọi là ngũ trần nhục dục.
Ngũ trần là:
(1) Sắc trần là cảnh
bị thấy bởi mắt.
(2) Thinh trần là tiếng
bị nghe bởi tai.
(3) Hương trần là mùi
bị hửi bởi mũi.
(4) Vị trần là vị bị
nếm bởi lưỡi.
(5) Xúc trần là xúc
bị chạm bởi da.
Các giác quan: sắc
đẹp, âm thanh, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm dễ chịu và các đối tượng hấp dẫn.
(2) Hữu sinh ái
(Bhava-taṇhā): Sự khao khát được tồn tại, được trở thành, được tiếp tục hiện hữu
trong một trạng thái hay cảnh giới nào đó.
(3) Phi sinh ái
(Vibhava-taṇhā): Sự vướng mắc vào quan điểm rằng sau cái chết là không còn gì cả.
Các tham ái đó
là nguyên nhân của khổ đau.
3. Diệt Tập Khổ
Đế
Này các thầy Tỳ
Kheo! Đây là chân lý cao thượng về sự diệt nguyên nhân của khổ (Dukkha-nirodha-ariya
Sacca, Noble Truth of Ending Suffering). Đó là sự chấm dứt lòng ham
muốn, không luyến tiếc.
4. Đạo Diệt Tập
Khổ Đế
Này các thầy Tỳ
Kheo! Đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt
nguyên nhân của khổ (Dukkha nirodhaga-mini-patipada-ariya-sacca, Noble
Truth of the way leading to the cessation of suffering). Đó chính là Bát Chánh
Đạo.
Phần VI - Tam Chuyển Pháp Luân, Thập Nhị Hành
Để giúp 5 vị Tỳ
Kheo hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Đức Phật thực hiện “tam chuyển Pháp luân” cho mỗi
Đế. Có tứ (4) Đế, mỗi để có tam (3) chuyển, do đó thành ra có thập nhị (12)
hành.
1. Đây là
3 chuyển Pháp luân của Khổ Đế
a. Thị Chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Đây là chân lý về sự Khổ (Khổ Đế) [sự thật về nỗi khổ đau:
phiền não, sanh tử luân hồi…] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe,
được hiểu.
b. Khuyến chuyển:
Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Khổ Đế này.
c. Chứng chuyển:
Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Đế này. Nên nhãn quan, sự
biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng (seeing,
understanding, wisdom, true knowledge and light) đã phát sanh đến Như Lai. [ánh
sáng ở đây có thể hiểu là “diệt trừ được vô minh”]
2. Đây là
3 chuyển Pháp luân của Tập Khổ Đế
a. Thị chuyển: Này
các Tỳ Kheo! Đây là chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập Khổ Đế) [sự
thật về các nguyên nhân của đau khổ, phiền não,
và sanh tử luân hồi] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng
được nghe, được hiểu.
b. Khuyến chuyển:
Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết các nguyên nhân của sự khổ: Khổ Tập
Đế.
c. Chứng chuyển:
Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Tập Đế này. Nên nhãn
quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát
sanh đến Như Lai.
3. Đây là
3 chuyển Pháp luân của Diệt Tập Khổ Đế:
a. Thị chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Đây là chân lý về diệt nguyên nhân của khổ (Diệt Tập Khổ Đế) [sự
thật về việc phải diệt trừ sự khổ đau để đạt được an
lạc, thanh tịnh, hạnh phúc và giác ngộ] là pháp mà trước
đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
b. Khuyến chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết cần phải dứt bỏ, tiêu
diệt sự khổ đau: Khổ Diệt Đế.
c. Chứng chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã trải nghiệm quyết định tiêu diệt sự
khổ đau: Khổ Diệt Đế. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết
rõ, chân hiểu biết và áng sáng đã phát sanh đến Như Lai.
4. Đây là
3 chuyển Pháp luân của Đạo Diệt Tập Khổ Đế
a. Thị chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Diệt Khổ Đạo Đế (=Bát Chánh Đạo) [con đường có 8 chi nhánh dẩn
đến việc diệt trừ khổ đau] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được
hiểu.
b. Khuyến chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Diệt Khổ Đạo Đế để
giúp dẩn đến việc diệt trừ khổ đau.
c. Chứng chuyển: Này
các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã thực nghiệm “Bát Chánh Đạo”. Khi Diệt
Khổ Đạo Đế được thực hiện (to be practised) và được phát triển
(to be developed) thì nhãn quan, sự hiểu, sự biết, trí tuệ biết rõ,
chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai.
Tam chuyển (tipariva,
three phases/ stages) Pháp luân: Đức Phật đã giảng “mỗi Diệu Đế” bằng cách đi
qua 3 giai đoạn nhằm giúp cho 5 vị Tỳ Kheo hiểu rõ và thực hiện hoàn toàn mỗi
Diệu Đế:
(a) Thị chuyển: đây
là giai đoạn công nhận (recognition), hiểu biết về “mỗi Diệu Đế” mà (hiện nay)
Đức Phật đã thấy rõ, (trước kia, trước khi giác ngộ, Đức Phật chưa thấy rõ).
Ngài giảng rõ cho 5 vị Tỳ Kheo ý thức về sự có mặt của Khổ đau, hành trình tìm
hiểu nguyên nhân, quyết định diệt trừ khổ đau, và con đường giúp diệt trừ khổ
đau.
(b) Khuyến chuyển:
đây là giai đoạn khuyến khích (encouragement) tìm hiểu về “mỗi Diệu Đế”, Đức Phật
đã khuyến khích 5 vị Tỳ Kheo nên tìm hiểu rõ về sự khổ đau, về nguyên nhân, quyết
định diệt trừ khổ đau, và phương cách để diệt trừ khổ đau.
(c) Chứng chuyển:
đây là giai đoạn thực hiện (realization), Đức Phật nêu lên bằng chứng Ngài đã
trải nghiệm và thực hiện “mỗi Diệu Đế”, do đó 5 vị Tỳ Kheo cần phải thực hiện
“mỗi Diệu Đế” này.
Tóm lại, sau khi đã
nhận thức từng (hay 4) Diệu Đế thì phải hiểu rõ từng (hay 4) Diệu Đế, rồi hoàn
thành việc thực hiện từng (hay 4) Diệu Đế. Và như thế các thầy Tỳ kheo mới giải
thoát khỏi khổ đau.
Thập nhị hành (dvadasakara,
twelve aspects): Đức Phật thực hiện “tam (3) chuyển Pháp luân” cho mỗi Diệu Đế
(mỗi chân lý vi diệu). Có 4 Diệu Đế (4 chân lý vi diệu), nên có 12 hành.
Phần VII - Xác Nhận
Sau khi kết thúc
“tam chuyển Pháp luân” (tiparivă, three stages/ phases) - thập nhị hành
(dvadasakara, twelve aspects), Đức Phật Thích-ca giảng tiếp:
Này các thầy Tỳ
Kheo! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) về
ba (3) vận chuyển (three stages/ phases)
và đủ mười hai (12) hành (twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như
Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods),
Ma vương (Maras), Phạm thiên (Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn
(Brahmans), con người (Humans) và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng
Như Lai đã đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ( Anuttara Samma Sambodhi,
The highest Awakening).
Này các thầy Tỳ
Kheo! đến khi Như Lai thấu triệt Bốn Diệu Đế/ Bốn Thánh Đế (insight and
understanding of the Four Noble Truths/Four Holy Truths), về ba (3) vận chuyển (three stages) và đủ mười hai (12) hành
(twelve aspects) một cách hoàn toàn sáng tỏ thì đến lúc đó Như Lai mới xác nhận
trước thế gian này gồm có cả chư Thiên (Gods), Ma vương (Maras), Phạm thiên
(Brahmas), Đạo sĩ (Recluses), Giáo sĩ Bà-la-môn (Brahmans), Con người (Humans)
và loài ngoài hạng con người nữa (Some-One) rằng Như Lai đã đạt được Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Và rằng lúc ấy tri kiến và nhãn kiến phát sanh thì tâm của
Như Lai được giải thoát và không còn lay chuyển. Đây là kiếp sống cuối cùng của
Như Lai, Như Lai sẽ không bao giờ tái sanh nữa.
Phần VIII - Kết luận:
Đức Phật giảng
xong, 5 vị Tỳ Kheo thấy vui mừng trong lòng. Ngài Kondanna
(Kiều Trần Như) khi nghe giảng Tứ Diệu Đế liền chứng được Pháp
nhãn thanh tịnh (Dhamma Cakkhu, Pure eye of Dhamma); và ngài chứng
ngộ rằng “cái gì đã có sanh tất phải có diệt” (Everything is of a nature
to arise is likewise of a nature to cease).
Lúc Đức Phật chuyển
Pháp Luân, chư Thiên trên hành tinh này hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt
diệu! Chẳng có Pháp Luân nào cao siêu hơn Pháp Luân này. Không có chư Thiên, Ma
vương, Phạm Thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn nào trên thế gian này có thể giảng
được như Đức Phật đã giảng tại vườn Lộc Uyển trong làng Isipatana, gần thành
Benares.”
Nghe lời vừa tán
dương trên, chư Thiên ở các cung trời Tứ-Đại-Thiên-Vương (Catum-Maha-Rajika, Four
Kings) v…v… cũng đồng thanh hoan hô: “tại vườn Lộc Uyển, trong làng Isipatana,
gần thành Benares, bánh xe chuyển Pháp tối thượng đã được Đức Phật thuyết giảng.”
và họ quay lưng rời bỏ chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ
Bà-la-môn và bất cứ người nào trên thế gian này. Họ sẽ hướng về Đức Phật.
Trong khoảnh khắc ấy
tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả
10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo.
Một hào
quang vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư
Thiên đã chiếu sáng trên thế gian.
Đức Phật liền
nói: “Kondanna quả đã giác ngộ! Kondanna quả đã giác ngộ! Từ đó
Kondanna được gọi tên là Annata Kondanna, có nghĩa là “Kondanna là người
đã giác ngộ”.
Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali),
quyển V, trang 420.
Bài học từ “Kinh Chuyển Pháp Luân” của Đức Phật Thích-ca.
Bài thuyết Pháp đầu
tiên của Đức Phật lịch sử đã dạy cho chúng ta những điều sau đây:
1 - Con đường ở giữa
Đức Phật khẳng định
với 5 vị Tỳ Kheo đồng tu khổ hạnh với Ngài trước kia rằng: “Đức Phật đồng ý với
quý Tỳ Kheo này việc tham luyến dục lạc là điều không có ích lợi, nhưng Đức Phật
thêm vào đó là việc tham luyến lối tu khắc khổ cũng không có lợi” và rồi Đức Phật
đưa ra giải pháp: “ Hãy tránh cả hai cực đoan, và chọn con đường ở giữa hai cực
đoan này để được đưa đến giác ngộ.”
Khi là Thái tử,
Ngài đã trải nghiệm cuộc sống vương giả, đã hưởng thụ dục lạc, yến tiệc linh
đình, cung phi mỹ nữ múa hát ngày đêm, có đủ kẻ hầu người hạ, tương lai còn được
vua cha trao cho ngai vàng…, nhưng Ngài đã “ngộ” rằng việc tham luyến dục lạc
là điều phàm tục, không có lợi ích, không thể kéo dài mãi mãi. Sau đó, trong bước
đầu của cuộc đời xuất gia, Ngài đã trải nghiệm cuộc sống của tu sĩ theo cách tu
khắc khổ, nhưng thể xác của Ngài suy yếu lần lần nên yinh thần cũng không được
minh mẫn, rồi Ngài “ngộ” rằng lối tu khắc khổ cũng không có lợi ích. Do đó Ngài
mới chọn “con đường ở giữa” hai thái cực này.
2 - Tứ Diệu Đế
Trọng tâm của Kinh
chuyển Pháp luân là lời giảng dạy của Đức Phật về Tứ Diệu Đế (catvāri
āryasatyāni; cattāri ariyasaccāni, Four Noble Truths), các Đại sư Trung Hoa còn
dịch là Tứ Thánh Đế (Four Holy Truths):
(1) - Khổ Đế
(dukkha, Duhkha, the truth of suffering) là chân lý về sự khổ đau: cuộc đời này
đầy đau khổ. Các Đại sư Trung Hoa dịch dukkha là khổ (suffering), dukkha còn có nghĩa rộng như
là sự không hài lòng (dissatisfaction), sự căng thẳng (stress)…
(2) - Khổ Tập
Đế (samudaya dukkha, the cause of suffering): nguyên nhân gây khổ đau là
vọng tưởng và bám vào sự vật vô thường.
(3) - Khổ Diệt Đế (nirodha dukkha, the
cessation of suffering): cần phải diệt trừ những vọng tưởng và bỏ sự bám víu
vào sự vật vô thường.
(4) - Diệt khổ Đạo Đế (magga dukkha, the path
to the cessation of suffering = the Noble Eightfold Path) là “con đường có 8
chi nhánh” = Bát Chánh Đạo, đây là phương cách để diệt trừ sự bám víu vào các vật
vô thường, và do đó sự tái sanh và khổ đau sẽ dứt.
3 - Bát Chánh Đạo
Con đường có 8 chi.
4 - Ngũ uẩn
Năm 5 nhóm yếu tố kết
hợp lại tạo thành con người: (1) Sắc uẩn, (2) Thọ uẩn, (3) Tưởng uẩn, (4) Hành
uẩn và (5) Thức uẩn. Các “Uẩn” thì liên kết với nhau, tùy thuộc lẫn nhau mà hiện
hữu, khi tan rả thì con người cũng không còn sống.
Đức Phật nói “ngũ uẩn”
luôn biến đổi không ngừng, ngũ uẩn là vô thường, như vậy “ngũ uẩn” là khổ.
5 - Vô thường
Ngài Kondanna đã ngộ
lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường (impermanence) khi
Kondanna phát biểu: “Cái gì đã có sanh tất phải có diệt”.
Toronto, 03 December 2016
Nguyễn Vĩnh Thượng
Cựu giáo sư triết học (1969 – 1975) tại các trường Trung
Học Petrus Ký, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn An Ninh, Cần Đước (Long An) và trường Sư Phạm
Sài gòn.
Tài liệu tham khảo chính yếu
- Cao Hữu Đính, Văn
Học Sử Phật Giáo, Huế: tác giả xuất bản, 1970. Đây là bài cours mà GS CHĐ đã soạn
giảng cho Sinh viên Đại Học Vạn Hạnh Saigon và Phật Học Viện Nha Trang.
- Hirakawa Akira, A
History of Indian Buddhism: from Sakyamuni to Early Mahayana, translated and
edited by Paul Groner, Hawaii: University of Hawaii Press, 1974.
- Kogen Mizuno,
Buddhist Sutras: Origin, Development, Transmission. Translated by Morio
Takanashi & others, adapted by Rebecca M. Davis. Tokyo: Kosei Publishing
Co. First English edition, 1982. Sixth printing, 1995.
- Narada,
Mahathera, The Buddha and his Teachings, Kandy (Sri Lanka): Buddhist
Publication Society, First enlarged edition: 1964, Second revised and enlarged
edition: 1973.
- Thích Thanh Kiểm,
Lược sử Phật giáo Ấn độ, Saigon: Lê Thanh Thư Xã, 1963.
- Thích Tâm Thiện,
Tìm hiểu ngôn ngữ Kinh điển Phật giáo, Sài-gòn: NXB TP.HCM, 2000.
Cùng một tác giả
Các bài viết đã đăng trên Internet bởi các trang Web: Thư
viện Hoa sen, Chùa Adida (Australia), Trang nhà Quảng Đức, Tống Phước Hiệp-Vĩnh
Long, Petrus Ký-LHP, An phong-An bình…:
- Ảnh hưởng Phật
giáo trong pháp luật triều Lý, 1971.
- Tư tưởng Phật
giáo trong văn học đời Lý, 1996 (Sách).
- Phật giáo như là
một triết học hay như là một tôn giáo, 2014.
- Cuộc đời của Đức
Phật Thích-ca, 2014.
- Việc phiên dịch
Kinh điển Phật giáo ra chữ Quốc ngữ, 2016.
- Việc phiên dịch
Kinh điển Phật giáo ra chữ Hán, 2016.
- Ngụy Kinh trong
thời kỳ Phật giáo Phát triển, 2016.
- Biểu nhất lảm Tam
tạng Kinh điển Phật giáo, 2016.
- Về một nhà giáo
thời VNCH: GS TS Nguyễn Thanh Liêm, 2010.
- Lời giới thiệu về
Nhà văn Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, 2014.
- Thầy Tạ Ký- Nhà
giáo và Nhà thơ, 2015.
- Tuyển tập Biên khảo
Nguyễn Vĩnh Thượng, 2016 (Sách PDF & EPUB)
v…v…

No comments:
Post a Comment